hello nice day

Category

adv2

Archive

Bài đăng phổ biến

Catwidget2

Catwidget4

Catwidget3

Thứ Tư, ngày 17 tháng 4 năm 2013


Bài tham luận chương trình VNEN

  BÁO CÁO:
NHỮNG VƯỚNG MẮC, KHÓ KHĂN KHI DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH VNEN
Khi dạy học theo mô hình trường học mới VNEN, giáo viên trong tổ gặp một số thuận lợi, khó khăn,  vướn mắc như sau:
1) Thuận  lợi:
- Thiết kế của bài học VNEN được xây dựng 3 trong 1, điều đó rất tiện cho GV và HS trong hoạt động dạy và học.
-   GV dễ dàng hơn khi tổ chức DH trên lớp, khắc phục được tình trạng truyền thụ kiến thức.
Dựa vào TL, có thể soạn bài bổ sung hoặc điều chỉnh ND, PPDH cho phù hợp đối tượng HS, đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phương.
-    HS được tự tin, chủ động trong học tập, phát triển tư duy phê phán và tư duy sáng tạo.
-    HS nghe và nói tích cực hơn.
-    HS được vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, hiểu ích lợi thiết thực của việc học.
-     HS quen làm việc trong môi trường tương tác, từ đó có thể học hỏi người khác để điều chỉnh bản thân
-     HS được học bằng  những nguồn tài liệu khác nhau từ góc học tập, thư viện của lớp, từ cộng đồng
-      SHDHT Đa số kênh hình và kênh chữ rõ ràng, dễ hiểu giúp học sinh tiếp cận bài học một cách dễ dàng.
-      Sau mỗi bài tập đọc có hệ thống câu hỏi giúp học sinh dễ dàng tìm hiểu nội dung của bài học.
-     Học tập theo mô hình VNEN giúp học sinh phát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin, hứng thú trong học tập. Với phương pháp dạy học mới, giúp các em phát huy tốt các kĩ năng: KN giao tiếp, KN hợp tác, KN tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học.
-     Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các kí hiệu của từng hoạt động: HĐ cá nhân, HĐ cặp đôi, HĐ nhóm, HĐ chung cả lớp, HĐ với cộng đồng.
-     Tạo điều kiện đẩy mạnh đổi mới PPDH và các hình thức dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực, chủ động, khả năng tự học của học sinh. Tăng khả năng thực hành, vận dụng, chú ý tích hợp với  hoạt động phát triển ngôn ngữ của học sinh thông qua các hoạt động học tập.
-     Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của học sinh trong đời sống hàng ngày. Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của học sinh, của cộng đồng thông qua HĐ ứng dụng của mỗi bài. Và khuyến khích HS tích luỹ kiến thức qua gia đình, cộng đồng, rèn cho các em kĩ năng giai quyết các vấn đề, các khó khăn của chính bản thân.
      Ví dụ: Hoạt động ứng dụng - Trong Bài “Cộng, trừ trong phạm vi 20” . Em  hỏi mỗi người trong gia đình em cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam, rồi tính xem cả nhà cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?.
-     Nhờ sự thay đổi cách thức thiết kế về kênh hình và kênh chữ màu sắc bắt mắt khiến học sinh có hứng thú trong học tập. Bên cạnh đó mỗi bài học được thiết kế theo cấu trúc của 10 bước học tập để học sinh phát hiện mình đã học được đến đâu và cần học lại phần nào thông qua phiếu tự đánh giá, nhận xét. Bên cạnh đó bài học còn được thiết kế theo kiểu cấu trú
 (1)Tạo hứng thú           (2)Trải nghiệm            (3)Phân tích- khám phá- rút ra bài học           (4)Thực hành – củng cố                                    (5)Ứng dụng
      Bên cạnh những thuận lợi, khi dạy theo chương trình VNEN cũng không ít khó khăn.
2) Khó khăn, vướng mắc:
     - Chưa được đẩy nhanh tốc độ học tập của cá nhân của HS khá giỏi
     - Nếu HS làm nhóm trưởng còn lúng túng thì tiến trình học của nhóm dễ bị chậm.
-         HS đã quen phong cách chờ đợi GV hướng dẫn từng thao tác, từng nhiệm vụ HT, rất khó quen với tài liệu tự học.
-         Một số em sẽ không đủ mạnh dạn để hỏi thầy cô những nội dung / yêu cầu chưa hiểu trong tài liệu, các em sẽ không làm việc.
     - HS lớp 3 chưa thành thạo trong việc tự bảo nhau điều hành hoạt động nhóm.
     - Yêu cầu của chương trình là học sinh khi học lên lớp 3 phải biết đọc và viết thành thạo, thì mới tự học được, nhưng thực tế tỉ lệ học sinh yếu Tiếng Việt lại khá phổ biến ở địa phương, chưa kể là học sinh học hòa nhập.
     - Học sinh vùng nông thôn, vùng dân tộc chiếm trên 80% nên giao tiếp còn nhiều hạn chế.
      - Thời gian đầu không có phân phối chương trình cụ thể nên GV còn lúng túng khi dạy.
      - Chuyển đổi từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cục một cách đột ngột, nên không khỏi gây cho GV, HS và phụ huynh tâm lý hoang mang sợ học sinh không tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu.
- Sách dự án không đủ cho mỗi em 1 bộ, lại chỉ được học trên lớp không được mang về nhà nên học sinh không có thời gian xem bài trước, không phát huy được tính cộng đồng như ý đồ của dự án.
- Kinh phí để thực hiện chương trình chưa kịp thời, đồ dùng dạy học phục vụ cho chương trình mới chưa có.
- Mô hình học nhóm suốt trong buổi học, tạo cho một bộ phận học sinh có cơ hội nói chuyện riêng và ỷ lại vào người khác.
-  Tiết học còn mất rất nhiều thời gian để hướng dẫn và chữa bài vì phải thực hiện trên từng cá nhân và từng nhóm.
* Khối 3:( SGK) Tiếng Việt
- Đối với môn Tiếng Việt cấu trúc môn học chưa được logíc. Sách chương trình đi hết phân môn này rồi tới phân môn khác còn sách thử nghiệm thì xen kẻ nhau.
       Ví dụ: Tuần 7, bài 7B: Tôn trọng trật tự nơi công cộng.
 A. Hoạt động cơ bản:
        + Hoạt động 1: Kể chuyện theo tranh.
        + Hoạt động 2:  Thi kể chuyện.
        + Hoạt động 3: 1 bài tập của luyện từ và câu.
B. Hoạt động thực hành:
         + Hoạt động 1: Viết tập viết.
         + Hoạt động 2: Bài tập chính tả
         + Hoạt động 3: Bài tập chính tả
         + Hoạt động 4: Viết bài chính tả
         + Hoạt động 5: Sát lỗi chính tả
         + Hoạt động 6: Bài tập chính tả
- Một số hình ảnh minh hoạ chưa phù hợp với nội dung bài.
     Ví dụ1:  Môn Tiếng Việt, Bài 1B: Trẻ em thông minh như thế nào?. Hoạt động 8 của hoạt động thực hành: “ Tìm và viết từ ngữ chỉ sự vật trong đoạn lời sau:
                   
                             Nào bàn nào ghế
                             Nào sách nào vở
                             Nào mực nào bút
                             Nào phấn nào bảng
     Nhưng lại đưa 3 bức tranh minh hoạ tranh cuốn sách, tranh cây bút, tranh lá cờ.
     Ví du 2: Môn Tiếng Việt, Bài 3C: Cháu yêu bà. Hoạt động 2 của hoạt động thực hành: Thảo luận trong nhóm tìm các từ. Trong khi cả 2 câu a,b thì tìm 6 từ nhưng chỉ có 4 tranh để minh hoạ.
- Sách dự án chưa kịp thời đáp ứng, khiến việc học của các em bị dán đoạn, học sinh học không kịp chương trình dẫn đến việc bồi dưỡng học sinh giỏi của trường, của lớp cũng ảnh hưởng không nhỏ.
- Theo CKTKN thì chương trình cắt giảm quá nhiều kiến thức. Đặc biệt là phân môn chính tả và tập làm văn. Tiết LT&C theo chương trình cũ lại cắt vụn ra từng bài tập làm cho HS lúng túng khi nhận dạng ra kiểu câu, biện pháp tu từ. Gây khó khăn cho giáo viên khái quát được nội dung.
*Khối 3:(SGK) Toán

- Ở tiết Toán phần luyện tập cho HS còn quá ít
- Chưa chú trọng đến các bài tập dành cho từng đối tượng HS
- Phần hoạt động ứng dụng ở các bài học, học sinh không thể nhận được sự hỗ trợ từ phía cộng đồng. Nếu không có sách giáo khoa ở nhà, giáo viên chỉ giới thiệu sơ qua thì học sinh không thể nhớ hết còn chép lại bài ứng dụng thì không có đủ thời gian học tiếp.
-  HS lớp 3 đa số đọc còn yếu chưa phân tích tổng hợp được những từ gợi ý trong sách giáo khoa

Sách
Giống nhau
Khác nhau
Sách GK
Có đủ nội dung học tập nêu trong chương trình và phân phối chương trình môn TV3
+ Có các hoạt động cụ thể hóa quá trình HS nhận biết kiến thức, hình thành kĩ năng
+ Có nội dung vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống


Sách GV
chỉ ra các hoạt động dạy của GV

+ Chỉ ra các hoạt động học của HS
+ Chỉ dẫn cách tổ chức hoạt động học cho HS
+ Không đưa ra những đáp án cứng, tỉ mỉ có thể giảm khả năng tự chủ của HS trong học tập

Vở bài tập
 có nhiều nhiệm vụ để luyện tập củng cố kiến thức, kĩ năng


+ Có những chỉ dẫn HS hoạt động để đạt được nhiệm vụ thực hành, luyện tập
+ Có những hoạt động nhằm tạo cơ hội cho HS vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống.

Hoạt động dạy học
các hoạt động dạy học của mô hình VNEN giống với các hoạt động dạy học hiện hành
Điểm khác là mô hình VNEN có thêm hoạt động ứng dụng. Đây là hoạt động rất thiết thực giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống, giúp cho cuộc sống của học sinh, gia đình, cộng đồng


* Tóm lại
- Đây là một dự án thử nghiệm mới mẽ nên giáo viên còn bở ngỡ, ngần ngại, rụt rè,lúng túng.Về dự án thì chưa có tiền hổ trợ kịp thời cho giáo viên, nên giáo viên còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về tiền đi lại ăn ở cho nên cũng ảnh hưởng phần nào đến công việc giảng dạy. Như tình hình hiện nay thì giáo viên cũng không biết mình dạy như thế nào, còn học sinh thì không có sách đầy đủ kịp thời để học. Mặt khác trang thiết bị chưa có giáo viên cũng chưa rút cho mình được những gì trong kinh nghiệm thực thi dự án. Nếu năm sau đầu tư thì giáo viên cũng học lại từ đầu, làm tốn rất nhiều công sức, thời gian và kinh phí. Muốn có được thành công thì không vì hơn chúng ta phải tận lực, tận tình.Phải đầu tư cả tâm huyết và công sức thì dự án mới có thành công. Hơn nữa đay là dự án còn thử nghiệm nên ít nhiều cũng con vướng nắc, mong quý đồng nghiệp nhiệt tình đóng góp cho chương trình dự án ngày càng tốt hơn.

                                                                                              

                                                                            Thuận Hòa 2 ngay 13 tháng 1 năm 2013
                                                                                        Người làm tham luận




                                                                                               
                                                                                  






















Categories: ,


Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Pellentesque volutpat volutpat nibh nec posuere. Donec auctor arcut pretium consequat. Contact me 123@abc.com

0 nhận xét:

Đăng nhận xét